#25 BỆNH ÁN LIỆT DÂY THẦN KINH VII NGOẠI BIÊN

Bệnh nhân: Nguyễn Thị M.A, 42 tuổi, ở xã Bình Ân
Vọng : Thần sắc uể oải, mệt nhọc, miệng méo lệch bên trái, mắt phải lệch, không nhắm kín được.
Văn: Hơi thở bình thường, tiếng nói bình thường.
Vấn : Bệnh nhân khai cách đây nửa tháng, sau khi ngủ dậy thấy mình bị liệt một bên mặt. Trước và sau khi xảy ra chứng này không có dấu hiệu đau nhức vùng mặt, nay thấy nhức đầu.
Thiết mạch: Trầm tế
Quy nạp bát cương: Lý hư
Quy nạp hội chứng bệnh lý  Căn cứ triệu chứng bệnh nhân khai, đây là chứng trúng phong, phong trúng vào lạc mạch cho nên phát sinh ra chứng khẩu nhãn oa tà.

Trước và sau khi xảy ra chứng này, bệnh nhân không có dấu hiệu đau nhức ở vùng mặt và đầu. Tuy nhiên xét theo mạch trầm tế, bệnh nhân bẩm chất vốn hư, cho nên trước tiên không có dấu hiệu gì, nhưng khi nằm ngủ bị phong tà cảm nhiễm vệ biểu phát sinh miệng méo, mắt lệch, không nhắm kín được và bắt đầu thấy nhức đầu.
Xử phương: Căn cứ các triệu chứng trên, trước tiên là phải khu tà ở vệ biểu, lồng vào đó bổ khí huyết để thực hiện phép vừa công vừa bổ, dùng thang Nhân sâm bại độc gia Câu đằng, Phòng phong, Bạch chỉ, Đương qui, Bạch thược cho uống 10 thang bệnh nhân dần dần miệng hết méo, mắt nhắm kín được, hết lệch. Xem mạch lại thấy mạch đi trầm hoãn đổi dùng thang Độc hoạt ký sinh cho uống thêm 6 thang nữa, bệnh đã ổn định trở lại gần bình thường cho xuất viện tiếp tục điều trị ngoại trú cho đến hết hẳn.
Biện luận: Chứng trạng này do vệ biểu hư, phong tà trúng vào lạc mạch ở mặt cho nên phát sinh ra chứng miệng méo, mắt lệch, mặc dầu bệnh nhân khai trước và sau khi bị chứng này không có dấu hiệu đau nhức vùng đầu mặt.
Tuy nhiên đối với mạch trầm tế là có dấu hiệu nội thương cho nên đêm nằm ngủ, khi sáng thức dậy thì mới biết mình bị miệng méo, mắt lệch là do nội thương từ trước. Khi nằm ngủ gặp luồng gió độc xâm nhập vào vệ biểu mà phát sinh ra, nhưng thuộc loại nhẹ vì là phong chỉ trúng vào lạc mạch chưa phạm vào sâu, mà Tây y gọi liệt thần kinh VII. Vì vậy lúc đầu dùng thang Nhân sâm bại độc gia Câu đằng, Phòng phong, Bạch chỉ, Đương qui, Bạch thược để vừa công, vừa bổ. Sau dùng thang Độc hoạt ký sinh bổ khí huyết, nhuận gân mạch, bệnh tự lành.