#24 BỆNH ÁN LIỆT DÂY THẦN KINH VII NGOẠI BIÊN

Bệnh nhân: Nguyễn Văn Th 35 tuổi ở xã Mỹ Lợi B.
Vọng: Người uể oải, miệng méo về bên trái, mắt lệch không nhắm kín được.
Văn: Tiếng nói và hơi thở bình thường.
Vấn: Bệnh nhân khai bệnh khởi phát đã 2 tháng bị liệt mặt phải, mất cảm giác nửa bên mặt phải, mắt nhắm không kín, miệng bị méo lệch về bên trái, thường nhức đầu bên phải, mỏi tê tay phải.
Thiết mạch : trầm hoạt tiểu.
Quy nạp bát cương: Lý thực.
Quy nạp hội chứng bệnh lý: Theo chứng trạng này Đông y gọi là khẩu nhãn oa tà, Tây y gọi liệt thần kinh VII. Do có nội hư, phần thượng tiêu bị phong tà trúng vào lạc mạch cho nên phát sinh chứng khẩu nhãn oa tà (miệng méo, mắt lệch nhắm không kín). Xét theo mạch trầm hoạt tiểu, thì hoạt là tích, tiểu là hư, vốn bị tích phong tà vào vệ biểu kèm theo nội hư khi gặp trái gió trở trời bệnh phát sinh, đây cũng thuộc loại trúng phong, nhưng căn bệnh còn nhẹ phong trúng lạc mạch.
Xử phương : Trước phải khu tà tại vệ biểu, đồng thời phải bổ khí huyết, dùng thang Nhân sâm bại độc gia Phòng phong, Kinh giới cho uống 10 thang, bệnh nhân bớt méo miệng, tay chân bớt mỏi và tê. Vùng mắt phải cảm giác co giật, không nhắm kín, đầu căng nhức, tiếp tục dùng thang Nhân sâm bại độc gia Câu đằng 10g, Mã tiền chế 2g, cho uống tiếp 10 thang nữa thì mắt bớt lệch, nhắm gần kín, miệng hết méo. Tái khám thấy mạch đi trầm hoãn đổi dùng bài Độc hoạt ký sinh gia Câu đằng 10g, Mã tiền chế 2g để vừa khu phong trừ thấp, vừa bổ khí huyết vì bệnh nhân có gốc nội hư, bệnh lành hẳn.
Biện luận: sở dĩ dùng thang Nhân sâm bại độc để trị bệnh này là vì phong tà chỉ trúng vào lạc mạch chưa phạm sâu vào kinh mạch tạng phủ. Thang Nhân sâm bại độc có tác dụng khu trừ phong tà ở vệ biểu lại có Nhân sâm bổ hư. Mạch trầm hoạt tiểu, hoạt là tích thụ phong tà, tiểu là khí hư mạch đi nhỏ. Bệnh nhân lại có nhức đầu, co giật nhẹ vùng hai mắt, mắt lệch không nhắm kín được, miệng méo lệch về bên trái, cảm giác tê mỏi, nên gia Câu đằng chống co giật, Mã tiền thông kinh mạch.

Công năng của các vị thuốc trong bài Nhân sâm bại dộc

Khương hoạt, Độc hoạt, Sài hồ, Xuyên khung phát hãn giải cơ, khử thấp tà; Tiền hồ, Chỉ xác giáng khí hành đàm, Cát cánh, phục linh, tiết phế trung tà nhiệt, thẩm thấp trừ đàm,  Cam thảo hoà trung giải biểu, Nhân sâm phù chính khu tà; Sinh khương, Bạc hà, trợ lực giải biểu phát hãn. Chủ trị cảm nhiễm phong, hàn, thấp, nhiệt tà khí, ố hàn, phát nhiệt, nhức đầu, cứng cổ, nghẹt mũi, tiếng nặng, cơ thể đau nhức, ho hen có đàm, không mồ hôi. Người bệnh hư nhược để Nhân sâm, người có sức bỏ Sâm gia Kinh giới, Phòng phong.

Công năng các vị thuốc của bài Độc hoạt ký sinh

Độc hoạt, Tế tân vào túc thiếu âm thận để ôn thông huyết mạch; phối hợp Tần giao, Phòng phong sơ thông kinh lạc, thăng phát dương khí, khử phong tà. Tang ký sinh ích khí huyết, khử phong thấp, Tục đoạn bổ can thận, lợi gân xương, thông huyết mạch, nối gân cốt đứt đau, bổ toàn thân, Mộc qua liễm phế chỉ ho, bình can, hoá tỳ thấp, thư cân cốt, phù nề, chân tay đau nhức, chuyển cân (vọp bẻ), phối hợp Đỗ trọng, Ngưu tất cường cân, kiện cốt, cố can thận; Thục địa, Đương qui, Bạch truật, Xuyên khung hoạt huyết, dưỡng huyết; Nhân sâm, Nhục quế, Phục linh, Cam thảo, ích khí bổ dưỡng cho nên có tác dụng khu tà, bổ chính, can thận âm hư phát nhiệt bị phong hàn thấp thừa hư xâm nhập tạo thành lưng chân đau nhức, chân tay lạnh tê vô lực, co duỗi khó khăn.

Hotline: 0972.203.159
Chat Facebook
Gọi điện ngay
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------